Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (bài làm của học sinh giỏi)

Giới thiệu tác phẩm: Chí Phèo là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao được viết vào tháng 2 năm 1941, được xem là kiệt tác của văn học hiện thực phê phán lúc bấy giờ. Chí Phèo kể về tấn bi kịch của người nông dân nghèo bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính, cuối cùng phải chọn cái chết để giải thoát cho chính mình.

Dàn bài chi tiết

1. Mở bài

Trích dẫn câu nói của M. Gorky : ““Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng – chủ quan – của mình, tìm thấy trong những ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.”

Giới thiệu Nam Cao và con mắt mới mẻ của ông

Giới thiệu Chí Phèo

2. Thân bài

Tiếng chửi và con người Chí Phèo trước khi vào tù

– Tác phẩm mở đầu bằng tiếng chửi của Chí: chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ Đại,…

– Chí Phèo

+là đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ở lò gạch cũ, được người đi thả ống lươn nhặt được, sau đó, chuyền tay cho người làng nuôi.

+Lớn lên, đi làm canh điền cho nhà lí Kiến.

+Là người chăm chỉ, lương thiện, có lòng tự trọng, có ước mơ.

Cuộc sống của con người bị tha hóa:

-Bị lí Kiến ghen, đẩy vào tù.

-Sau khi ra tù: Trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính.

-Chí Phèo là hình tượng nhân vật phán ánh hiện thực của xã hội lúc bấy giờ, từ con người lương thiện, chất phác, sau khi ra tù trở thành con quỷ dữ, chuyên rạch mặt ăn vạ.

• Chí Phèo và tấn bi kịch không được quyền làm người:

-Cuộc gặp gỡ định mệnh với thị Nở, đánh thức con người Chí.

-Bát cháo hành và sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo.

-Chí Phèo khao khát làm người, khao khát có cuộc sống như ngày xưa đã từng mơ ước.

-Bà cô thị Nở từ chối cho thị sống cùng với Chí, từ chối quyền làm người, quay lại cuộc sống lương thiện như xưa.

-Chí Phèo tuyệt vọng, tìm đến bá Kiến đòi “ lương thiện”, đòi quyền làm người và ý thức được kẻ đã tước đoạt quyền được sống như một con người của mình.

-Chí trả thù bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình.

Cái chết của Chí Phèo và bá Kiến, sự lo lắng của thị Nở

– Chí Phèo và bá Kiến chết, cả làng Vũ Đại bàn tán

– Thị Nở nghĩ tới Chí rồi nghĩ tới tương lai nếu mình chửa con của hắn.

Nội dung và nghệ thuật

Nội dung

+ Tái hiện xã hội trước CM tháng tám

+ Vẻ đẹp nhân cách con người khi bị tước đoạt nhân hình, nhân tính

Nghệ thuật

+ Giọng điệu đan xen

+ Miêu tả nội tâm nhân vật

+ Tình huống điển hình

+ Ngôn ngữ tự nhiên, giản dị

3. Kết bài

-Chí Phèo là kiệt tác của nhà văn Nam Cao khi xây dựng tuyến nhân vật điển hình, giàu sức thuyết phục. Chí Phèo là hình tượng chân thực, rõ nét nhất về người nông trước trước cách mạng tháng Tám bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính.

– Nhà văn Nam Cao xuất sắc trong mảng đề tài về người nông dân, nhưng theo cách mới mẻ, độc đáo, không đi sâu vào cuộc sống khó khăn, cơ cực mà lại khai thác nội dung tâm hồn, khao khát, ước mơ của những người nông dân ấy.

phan tich chi pheo - Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (bài làm của học sinh giỏi)

Phân tích truyện ngắn Chí Phèo

Bài làm

Nhà văn Nga M.Gorky có nói: “Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng – chủ quan – của mình, tìm thấy trong những ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.” Trong nền văn học hiện đại có rất nhiều nhà văn đã làm được điều đó. Một trong những nhà văn tiêu biểu, đặc sắc nhất viết về con người và nỗi đau không chỉ về vật chất mà còn nỗi đau tinh thần là nhà văn Nam Cao. Những truyện ngắn của ông luôn lấy hiện thực làm gốc, lấy con người làm trung tâm để miêu tả. Sự nghiệp văn học hiện thực của Nam Cao tuy tới muộn hơn so với lúc bấy giờ nhưng đã để lại tiếng vang lớn cho nền văn học nước nhà. Nhưng xuất sắc hơn cả phải kể tới Chí Phèo của Nam Cao. Chí Phèo viết về đoạn cuối cùng của cuộc đời người nông dân tên Chí Phèo bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào bước đường cùng để rồi chọn cái chết để tự giải thoát chính mình.

Xem thêm:  Anh (chị) hãy bình giảng bài: Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu

Mở đầu tác phẩm người ta chỉ nghe thấy tiếng chửi của Chí Phèo, của một kẻ say rượu triền miên, của một con quỷ dữ. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn,…Nhưng nếu đi ngược lại về quá khứ, cái ngày mà Chí Phèo mới sinh ra. Chí Phèo từ khi sinh ra đã trở thành đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ “ trần truồng và xám ngắt” được người đi thả ống lươn nhặt về và chuyền tay cho người làng nuôi, từ một bà góa mù, một bác phó cối, rồi khi bác phó cối này mất thì Chí lại bơ vơ, không nơi nương tựa và “ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ” . Năm 20 tuổi, Chí đi làm canh điền cho nhà lí Kiến. Ngày ấy, anh Chí là một thiếu niên sức dài vai rộng, chăm chỉ làm nụng. Mặc cho một tuổi thơ mồ côi cha mẹ, sống nay đây mai đó, Chí Phèo một thời tuổi trẻ vẫn hiện lên là con người mộc mạc, chất phác, dám mơ ước và có lòng tự trọng. Chí Phèo đi làm canh điền cho nhà lí Kiến, một lần bị bà Ba gọi lên bóp chân cho bà, hắn chỉ thấy nhục, hắn nhận thức được đâu là tình yêu, đâu là thói dâm ô, lẳng lơ ong bướm. Hắn mang trong mình một tâm hồn trong sáng, sự lương thiện, hiền lành mà bất kì người làng Vũ Đại nào lúc bấy giờ cũng phải công nhận, hắn “ hiền như cục đất”. Tuổi trẻ của hắn cũng đẹp, cũng có ước mơ và những khao khát muốn thực hiện, nhưng chính xã hội lúc bấy giờ không cho hắn cái quyền giản đơn ấy. Sau lần ghen tuông của lí Kiến, Chí Phèo bị giải huyện rồi bị đưa vào tù. Bước ngoặt cuộc đời của hắn cũng bắt đầu từ đây.

Sau khi ra tù, Chí Phèo đã thực sự thay đổi, khiến người làng Vũ Đại không ai nhận ra hắn. Chí Phèo “ như thằng sắng cá, cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”, rồi thì “hắn mặc quần nái với cái áo Tây vàng, phanh ngực ra đầy những nét chạm trổ rồng, phượng,…”. Thực lòng “ trông gớm chết!”. Hắn đã thay đổi, thay đổi nhân hình, thay đổi cái dáng vẻ mộc mạc, thuần chất xưa kia bằng cái vẻ gớm ghiếc. Nhưng đó là sự thực. Người ta vào tù để cải tạo, để thay đổi tốt hơn, Chí Phèo thì ngược lại. Chí Phèo không chỉ thay đổi về nhân hình mà hắn còn thay đổi cả về nhân tính. Hắn về rồi lại bắt đầu uống rượu, người ta thấy hắn uống ở ngoài chợ từ lúc sáng sớm cho đến xế chiều. Hắn uống say khướt rồi xách một vỏ chai rượu đến nhà bá Kiến, nhưng cụ bá nào có ở nhà. Chí Phèo chửi nhau với lí Cường, với mấy con chó dữ nhà cụ bá. Hắn trở nên lưu manh hóa, liều lĩnh và rạch mặt ăn vạ kẻ đã đẩy mình vào tù. Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi, hắn chẳng còn cái vẻ hiền lành ngày trước mà đã trở thành một con người khác, lúc nào cũng trong cơn say triền miên. Thế rồi, cụ bá lại nắm được thóp của hắn, bá Kiến dỗ ngon dỗ ngọt biến Chí Phèo trở thành tay sai của mình. Chí Phèo ăn, ngủ và làm những việc người ta sai khiến trong lúc say và hắn cũng trở thành tay sai của bá Kiến- kẻ thù của mình trong lúc say. Chí Phèo kẻ lưu manh hóa đã bị bá Kiến lợi dụng trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Rồi năm tháng trôi đi, Chí Phèo trở thành người không tuổi. Trong sổ của làng không có tuổi hắn, không có tên hắn. Chí Phèo đã trở thành kẻ không được xã hội loài người công nhận, hắn mất hết nhân hình và nhân tính. Hắn gây ra biết bao tai họa, gieo rắc nỗi đau, làm chảy bao nhiêu máu và nước mắt của những con người lương thiện.Hắn đã đi đến cùng cực của sự tha hóa và biến chất, Chí Phèo không còn là Chí Phèo của ngày xưa, không còn lương thiện. Hắn đã đánh mất lương tri, nhân tính vốn có của mình, khiến cho cả làng Vũ Đại, cả xã hội xa lánh và tước đi quyền làm người.

Xem thêm:  Có ý kiến cho rằng, thế giới nghệ thuật của bài Thơ Duyên của Xuân Diệu là một "thế giới giao duyên" phản chiếu một tâm hồn rất trẻ "lần đầu rung động nỗi thương yêu" trước một chiều thu đẹp. Hãy phân tích bài Thơ Duyên để chứng minh ý kiến trên

Một lần trong buổi tối sáng trăng, sau khi được uống rượu với Tự Lãng, hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị là người đàn bà xấu xí, ngẩn ngơ, ế chồng. Sau cuộc gặp gỡ ấy, linh hồn, nhân tính và lương tâm của Chí Phèo đã sống dậy. Thị Nở tuy xấu xí nhưng thị có thứ mà người khác không có, ấy chính là tình thương. Tình thương giữa người với người làm trái tim Chí Phèo như sống dậy. Tình thương ấy đánh thức phần người bên trong con người Chí bấy lâu, đã đưa Chí Phèo ra khỏi những cơn say triền miên. Hắn chưa bao giờ tỉnh như lúc này. Đầu tiên là hắn tỉnh rượu, hắn tỉnh để sống và tỉnh để yêu. Hắn mơ hồ buồn, cái mơ hồ rất đỗi nhẹ nhàng, nhưng thực là hắn không mơ, hắn đã biết sợ rượu. Không chỉ có vậy, Chí Phèo còn tỉnh cả về nhận thức và tâm lí. Hắn nghe được những âm thanh bên ngoài, tiếng chim hót ngoài kia, tiếng cười nói của những người đi chợ hay tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh bình dị, hàng ngày, đến hôm nay hắn mới nghe thấy. Lòng mơ hồ buồn ấy đã đưa hắn vềquá khứ, hiện tại và tương lai. Hắn nhớ về những ước mơ, khao khát thời trai trẻ, được sống một cuộc sống bình dị, có vợ, có chồng và những đứa con. Đang lúc suy nghĩ miên man thì thị Nở bưng bát cháo hành đến. Nồi cháo hành của thị làm Chí Phèo từ ngạc nhiên rồi chuyển qua xúc động. Hắn ngạc nhiên bởi lẽ từ xưa tới nay, hắn chưa thấy ai tự nhiên cho hắn cái gì. Hắn xúc động vì hắn chưa được chăm sóc bao giờ. Chí Phèo ăn một cách ngon lành bởi bát cháo là hương vị của tình yêu thương, của hạnh phúc mà lần đầu tiên hắn có. Chí Phèo bỗng trở thành một con người hiền lành. Tình yêu đã làm thức tỉnh bản chất lương thiện bên trong con người Chí. Hắn muốn trở về cuộc sống của một con người bình thường, lương thiện và chắc chắn thị Nở sẽ là người mở ra con đường ấy cho hắn.

Họ ở với nhau được năm ngày, đến ngày thứ sáu, bà cô thị Nở xa về. Bà đã xỉ vả mắng nhiếc thị vì đã biết được chuyện giữa thị với Chí Phèo. Thế rồi, thị lại tìm đến Chí, mắng nhiếc Chí. Chí Phèo lại uống rượu, nhưng càng uống càng tỉnh. Hắn ôm mặt khóc rưng rức rồi hắn lại uống, uống đến khi say mềm. Chí Phèo xách dao đi, hắn vừa đi vừa chửi và dọa giết “nó”. Hắn nghĩ là một chuyện, nhưng hắn lại xách dao đến nhà bá Kiến. Chí Phèo đến nhà bá Kiến, hắn đòi quyền làm người, đòi quyền được sống như những con người bình thường, có cuộc sống bình dị và có một gia đình nho nhỏ. “ Ai cho tao lương thiện? Tao không thể làm người lương thiện được nữa rồi!” tức thời, hắn rút dao ra đâm chết bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình. Với Chí Phèo, niềm tin lương thiện còn cao hơn cả khao khát cuộc sống. Thế là Chí Phèo chết, một kiếp người nông dân đau khổ, bị tha hóa, bị lưu manh hóa đã khép lại. Nhưng không biết ngoài kia còn có bao nhiêu con người như thế.

Xem thêm:  Trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta

Nghe tin hai cái chết, cả làng Vũ Đại nhao nhao lên, họ bàn tán, họ hả hê. Còn thị Nở lại nghĩ đến Chí Phèo “ sao có lúc nó hiền như đất”, rồi thị nhớ lúc ăn nằm với hắn, nhìn bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng mình. Thị nghĩ nếu mình có chửa mà Chí Phèo chết rồi thì thị phải làm sao, đột nhiên trong đầu thị hiện ra cái lò gạch cũ. Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện đầu truyện và cuối truyện chính là sự liên tục tiếp diễn của nhiều số phận con người nghèo khổ, không có chỗ nương thân, không được xã hội công nhận, không được làm con người mà phải tìm đến cái chết để giải thoát.

Chí Phèo mang một chủ đề hẹp đã được khai thác trước đó về nỗi khổ của người nông dân, nhưng cái độc đáo của Nam Cao là khai thác sâu hơn sự đau khổ về mặt tinh thần khi con người không được công nhận là người. Truyện ngắn đã phản ánh bộ mặt nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, khẳng định bản chất đẹp đẽ của con người khi bị cướp đi cả nhân hình và nhân tính. Truyện ngắn cũng cho thấy tài năng bậc thầy của Nam Cao khi sử dụng đan xen ngôn ngữ của người kể chuyện và nhân vật làm cho độc giả hiểu, đồng cảm hơn với nhân vật. Một trong những biệt tài mà Nam Cao sử dụng chính là miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật từ Chí Phèo cho tới thị Nở, đặt nhân vật của mình trong những hoàn cảnh điển hình để bộc lộ tính cách và phẩm chất của họ. Bằng ngôn ngữ tự nhiên, giản dụ, diễn đạt độc đáo, sử dụng nhiều khẩu ngữ quần chúng đã tái hiện đầy đủ mà sâu sắc xã hội cũng như nỗi đau khổ của con người trong xã hội thực dân nửa phong kiến.

Chí Phèo đã trở thành một bản tố cáo đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến không cho người ta cái quyền làm người, tước đoạt đi sự lương thiện vốn có, đẩy người nông dân vào cảnh lầm than, tha hóa, lưu manh hóa. Nhưng sau tất cả, tình yêu thương giữa người với người vẫn nở hoa, vực dậy con người từ trong đau khổ. Nam Cao đã xuất sắc chinh phục những con người yêu sự thật, làm nảy nở trong lòng người những tình thương mãnh liệt, đậm sâu. Và nhà văn – người nghệ sĩ chân chính khi dám sáng tạo, dám đem đến những đề tài cũ mà mới, dùng đôi mắt mới để nhìn mảnh đất cũ sẽ luôn tồn tại trong lòng độc giả, biến độc giả trở thành tri âm, tri kỉ của mình, gieo những hạt giống đẹp đẽ vào vườn hoa văn học, vườn hoa cuộc đời.

Nguyễn Khánh Linh

Lớp 11A1 – Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Lục Yên, Yên Bái