Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (bài làm của học sinh giỏi)

Giới thiệu tác phẩm: Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ do thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940) sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (về sau đổi tên thành Đau thương). Bài thơ là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại.

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Trích dẫn câu khẳng định của Tố Hữu: “ Thơ là tiếng nói của tri âm.” Nhà thơ phải dùng trái tim để làm thơ.

Giới thiệu Hàm Mạc tử và phong cách thơ.

Giới thiệu Đây thôn Vĩ Dạ.

2. Thân bài

Đoạn thơ 1: Vẻ đẹp con người và cảnh vật xứ Huế

Mở đầu bằng lời mời hoặc lời trách móc, ao ước của nhà thơ được đến thôn Vĩ một lần.

Bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp, sinh động qua hình ảnh hàng cau, nắng mới, vườn lá xanh mướt như ngọc.

Khuôn mặt chữ điền hiền lành, phúc hậu

Đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên và con người xứ Huế: thiên nhiên đẹp đẽ, con người e thẹn, dịu dàng.

Đoạn thơ 2: Nét buồn trong thơ Hàn Mạc Tử

Hình ảnh hiện tượng thiên nhiên, sự vật được nhân cách hóa để diễn tả tâm trạng con người.

Sự chia li của gió mây gợi sự chia li của con người.

Không gian trống vắng, thời gian như ngừng trôi, cảnh vật vô hồn.

Sự vật thay đổi trở nên tươi vui hơn: dòng sông trăng lấp lánh, lãng mạn, tràn trề sức sống.

Câu hỏi là nỗi mong chờ, nỗi phấp phỏng, hoài nghi, lo lắng cho số phận của mình.

Đoạn thơ 3: Khát vọng sống, khát vọng yêu thương:

Chủ thể đầy khát vọng

Khách thể hư ảo, nhạt nhòa, xa xôi

Câu thơ cuối hiểu 2 nghĩa:

+ Làm sao mà biết được tình cảm của người con gái Huế có đậm đà?

+ Làm sao mà cô gái Huế biết được tình cảm nhớ thương tha thiết của nhân vật trữ tình?

3. Kết bài

Tóm lại nội dung: lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu con người được thể hiện đầy đủ, đậm nét qua những biện pháp tu từ mang đậm phong cách thơ Hàn Mạc Tử.

phan tich bai tho day thon vi da - Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (bài làm của học sinh giỏi)

Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ

Bài làm

Nhà thơ Tố Hữu đã từng khẳng định: “Thơ là tiếng nói của tri âm.” Nhà thơ hay bất kì người sáng tạo nghệ thuật nào cũng không đơn thuần chỉ là sáng tác. Nhà thơ phải biết neo đậu vào mảnh đất cuộc đời nhưng hơn cả là một con mắt mới, một trái tim luôn sôi sục lòng yêu. Hàn Mặc Tử, một trái tim đập mãnh liệt vì tình yêu với đời, với người, với nghệ thuật thơ lãng mạn. Ông thăng hoa trong thơ, sống với thơ và yêu với thi ca trữ tình. Đây thôn Vĩ Dạ chính là cảm xúc mãnh liệt nhất, kiệt tác thơ của Hàn Mạc Tử và cũng là một trong những bài thơ hay nhất của thơ Việt Nam hiện đại. Bài thơ chính là cảm xúc, là tình yêu của tác giả với cuộc đời, với con người mặc dù sống trong Đau thương.

Xem thêm:  “Khi đạt được thành công trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt - và khi đã cố gắng hết mình - người ta mới trân trọng thành quả và cảm nhận được hạnh phúc thực sự”. (T.S.EIiot) . Anh (chị) suy nghi gì về ý kiến trên?

Bài thơ được mở đầu bằng một câu hỏi hay phải chăng là một câu trách móc nhẹ nhàng:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Được mở đầu bằng một câu hỏi tu từ khiến cho độc giả trở nên hứng thú. Chỉ bằng một câu hỏi cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa bao tình cảm tha thiết. Câu thơ có thể là lời mời hoặc lời trách móc hay xa hơn là lời ao ước thầm kín của tác giả được một lần về thăm thôn Vĩ, nơi vùng thôn quê thơ mộng xứ Huế. Dường như nhà thơ đã tự phân thân để giãi bày tâm trạng tiếc nuối và nhớ mong của mình khi không thể tới thôn Vĩ được vì bệnh phong hành hạ. Căn bệnh khó chữa lúc bấy giờ đã làm người ta đau đớn về thể xác và cướp đi những con người trước sự sống mong manh.

Ở những câu thơ sau, thôn Vĩ hiện lên sinh động và tươi vui, gần gũi:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Yêu làm sao xứ Huế mộng mơ. Huế đẹp không chỉ bởi sắc tím sông Hương hay câu hò xứ Huế, Huế còn đẹp bởi những cảnh vật rất đỗi bình dị, thân thương. Huế đẹp bởi con người nơi đây. Đằng sau lời mời, lời trách móc của người con gái Huế mở ra một khung trời đầy thơ mộng. Một tuyệt tác rộng mở ra trước mắt độc giả. Thật hạnh phúc làm sao khi mỗi ngày được đón những tia nắng sớm, bắt đầu một ngày mới tươi trẻ, năng động. Nắng hàng cau soi rọi, lung linh khiến người ta bồi hồi nhớ lại quê hương nơi có những hàng cau cao lớn. Hàng cau là khoảng trời tuổi thơ với chiếc mo kéo mãi, hàng cau là những miếng cau bà nhai mãi không thôi. Hàng cau ở đây chính là thôn Vĩ, là con người thôn Vĩ chân chất, mộc mạc nhưng gần gũi, tình cảm.

Nắng sớm nơi thôn quê chính là sự khởi đầu của một ngày mới nơi đây. Một ngày thật tuyệt vời nếu như con người được tận hưởng ánh nắng sớm và lao động miệt mài. Ánh nắng ấy còn chiếu sọi, làm bừng lên sức sống nơi thôn quê:

Xem thêm:  Phân tích dấu ấn thơ ca dân gian trong bài Tương Tư của Nguyễn Bính.

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Không gian thôn Vĩ sinh động làm sao, tươi trẻ làm sao! Nắng sớm đã làm cho vườn tược, cây cối rực rỡ hơn. Vườn tược hiện lên mượt mà, mướt xanh. Ấy chính là sức sống mãnh liệt, tràn trề của cây cối, của hoa lá chốn thôn quê. Những chiếc lá sau một đêm được sương đêm tắm mát. Trong câu thơ, nhà thơ không dùng bất cứ từ xanh nào khác để chỉ “ vườn ai” mà đã so sánh cái xanh ấy với ngọc ngà trân quý. Màu xanh chính là khát vọng, là sự sống, là tuổi trẻ đam mê và hi vọng. Màu xanh làm cho con người gần nhau hơn, gần gũi với thiên nhiên hơn.

Hình ảnh khiến người ta đọng lại, ấn tượng chính là hình ảnh con người lại tiếp tục xuất hiện trong bài thơ:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Tre trúc quá đỗi gần gũi với con người. Cây tre, cây trúc làm bàn, làm ghế, làm chiếc chõng nơi sân nhà, làm vũ khí mà tiến lên,… Hình ảnh “ mặt chữ điền” là khuôn mặt hiền lành, phúc hậu. Hình ảnh ấy ẩn hiện sau chiếc lá trúc che ngang khiến cảnh vật và con người trở nên thân thiết, gần gũi cũng hư hư thực thực. Qua đoạn thơ đầu tiên, tác giả đã miêu tả chân thực, trữ tình vẻ đẹp của cảnh vật và con người xứ Huế, bức tranh thiên nhiên xinh xắn, đầy ắp ánh sáng, hình ảnh con ngươi kín đáo, dịu dàng, e ấp cũng nồng hậu, yêu thương.

Bên bờ sông Hương thơ mộng, thôn Vĩ cũng đẹp, cũng mộng mơ. Sau thôn Vĩ, nhà thơ thả hồn mình theo dòng sông Hương êm đềm với nỗi bâng khuâng, nhớ mong tha thiết:

“Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?”

Hình ảnh gió, mây, sông, nước, hoa được nhân cách hóa để diễn tả tâm trạng con người. Gió và mây là nỗi sầu chẳng thế đong đếm, gió cứ bay, mây cứ trôi vô định. Gió đi đường gió, mây đi đường mây gợi lên sự ngược đường, ngược hướng của gió mây. Phải chăng sự ngược đường của hai hiện tượng trong thiên nhiên dưới ngòi bút của Hàn Mạc Tử như con người có tình cảm, cũng biết yêu thương, đau khổ kia đang bị chia li đôi ngả, gợi một nỗi đau thân phận xa cách, chia lìa. Hai câu đầu tiên, tác giả vẽ nên một không gian trống vắng, thời gian như ngừng lại, cảnh vật trở nên hững hờ với con người. Nếu ở câu thơ thứ hai, dòng nước vô hồn, buồn thiu thì ở câu thơ sau đã trở thành dòng sông trăng lấp lánh với con thuyền chở đầy trăng. Dòng sông hiện thực trở thành dòng sông mơ mộng, huyền ảo, đẹp lung linh, đầy lãng mạn với tràn trề ánh trăng. Dòng thơ cuối đoạn thứ hai là câu hỏi tu từ mà tác giả đặt ra, câu hỏi ấy ấn chứa nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời chứa nỗi phấp phỏng, hoài nghi về con người, về cuộc đời. Vầng trăng hạnh phúc mà con thuyền chẳng kịp chở về cho con người ngóng đợi. Sự hoài nghi, lo lắng về số phận tương lai của nhà thơ khi ông đang mang trong mình căn bệnh chẳng thể chữa trị lúc đó. Ông đã từ giã cuộc đời khi chỉ mới 28 tuổi.

Xem thêm:  Viết bài văn nghị luận bàn về thái độ khiêm tốn, không giấu dốt mà anh (chị) rút ra được sau khi học truyện “Tam đại con gà”

Nhưng người ta có bao giờ ngừng mơ khi cuộc đời vẫn còn đó, mỗi ngày còn tiếp diễn là một ngày được mơ, dám mơ và dám thực hiện:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo trắng em quá nhìn không ra;

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ? “

Đoạn thơ cuối cùng hiện lên hư ảo vô cùng. Nhà thơ cứ mơ, độc giả cũng cứ mơ theo từng dòng thơ của tác giả. Nếu chủ thể trữ tình đầy khát vọng thông qua tiếng gọi thì khách thể lại hư ảo, nhạt nhòa và xa xôi. Câu thơ cuối cùng : “ Ai biết tình ai có đậm đà?” lại tiếp tục là một câu hỏi, câu hỏi ấy chất chứa đầy sự hoài nghi, băn khoăn, mang ý nghĩa trái ngược nhau. Câu thơ ấy có thể là lời của nhà thơ khi làm sao mà biết được tình cảm của người xứ Huế phương xa có đậm đà hay không, hay chỉ như làn sương khói mù mịt rồi tan đi mãi mãi. Hoặc là lời cô gái Huế ấy làm sao mà biết được tình cảm nhớ thương của nhân vật trữ tình. Cho dù hiểu thế nào đi chăng nữa đoạn thơ đã thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm mà nhà thơ muốn đem đến thể hiện sự khát khao, yêu thương và đồng cảm sâu sắc.

Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

Nguyễn Khánh Linh

Lớp 11A1 – Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Lục Yên, Yên Bái

Từ khóa tìm kiếm:

  • Phân tích bài đây thôn vĩ dạ bài học sinh giỏi hay nhất