Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên (bài làm của học sinh giỏi)

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả và bài thơ:

+ Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Chế Lan Viên được biết tới như là nhà thơ trữ tình triết luận. Thơ của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc ở sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh.

+ Bài thơ “Tiếng hát con tàu” là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của nhà thơ.

2. Thân bài

Hoàn cảnh ra đời bài thơ: Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960). Bài thơ được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – xã hội. Đó là cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc xây dựng kinh tế miền núi những năm 1958 – 1960.

Ý nghĩa nhan đề bài thơ: là tiếng hát của tâm hồn, tấm lòng nhà thơ, tiếng ca reo vui của một tâm hồn thơ tràn đầy khát vọng, niềm khao khát được đi xa, ra đi đến với cuộc sống xây dựng vùng cao Tây Bắc, góp sức xây dựng cuộc đời.

Bố cục bài thơ: ba phần (hai khổ đầu, chín khổ giữa và bốn khổ cuối) theo trình tự diễn biến tâm trạng. Giọng điệu, âm hưởng của bài thơ cũng biến đổi theo mạch tâm trạng.

Lời đề từ:

+ Nêu lên cảm hứng, chủ đề bao trùm toàn bài cũng như khát vọng về với nhân dân, với mọi miền đất nước của tác giả.

+ Những câu thơ đề từ còn có ý nghĩa khái quát lên những đặc trưng và yêu cầu của quá trình sáng tạo nghệ thuật.

Hai khổ thơ đầu là lời giục giã với những câu hỏi ngày càng hối thúc. Nhà thơ chọn hình ảnh con tàu và địa danh Tây Bắc làm biểu tượng nghệ thuật của cả bài thơ.

+ Con tàu trong bài thơ này là hình ảnh ẩn dụ. Biểu tượng cho khát vọng đi xa, thoát khỏi cuộc sống cá nhân chật hẹp để đến với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, của đất nước. Địa danh Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể của một vùng đất còn gợi nghĩ đến mọi miền đất xa xôi của Tổ quốc, nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân, nơi đã ghi khắc những kỷ niệm của đời người trải qua cuộc kháng chiến, nơi đang vẫy gọi đi tới.

+ Đoạn thơ chính là lời giục giã, lời mời gọi lên đường tới mọi miền xa xôi của Tổ quốc để xây dựng cuộc sống mới đồng thời thể hiện sự trăn trở, suy nghĩ trong con người tác giả.

Chín khổ thơ tiếp: niềm hạnh phúc và khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỷ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến; xen với những hình ảnh lung linh của hồi tưởng là những chiêm nghiệm, đúc kết trong giọng thơ trầm lắng.

+ Bắt đầu là cảm xúc và tấm lòng của nhà thơ khi hồi tưởng về những năm kháng chiến. Lòng thành kính, biết ơn hiện lên ở “xứ thiêng liêng”, “rừng núi anh hùng”, “nơi máu rỏ” thật trang trọng, thể hiện sự vĩ đại của Tây Bắc. Điều đó như ám ảnh nhà thơ về một món nợ tinh thần phải trả; Tác giả tự nhận mình là “con” và nhân dân chính là “Mẹ yêu thương”. Đó là biểu hiện cao độ của lòng biết ơn.

+ Tiếp theo là khát vọng và niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân và kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình. Tác giả đã diễn tả niềm hạnh phúc được về với nhân dân bằng một loạt hình ảnh so sánh. Nhân dân được ví như suối nguồn mát trong cho con nai khát, như hơi ấm mùa xuân cho cỏ rụi bật mầm, như ánh thiều quang cho chim én vui liệng.

+ Khát vọng lên Tây Bắc gợi nhớ cả một trời kỉ niệm về những năm tháng kháng chiến gian nan, nguy hiểm mà ấm áp tình người. Đồng thời là sự gắn bó và lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân kháng chiến. Điều này được thể hiện cụ thể ở ba khổ thơ tiếp: “Con nhớ anh… nhớ mãi ơn nuôi”.

+ Khổ thơ tiếp theo như một phát hiện về quy luật của tình cảm đời sống tâm hồn con người. Đang từ dòng hồi tưởng về những kỉ niệm khó quên, nhà thơ đã nâng cao và khái quát cảm xúc lên thành một triết lí nhân sinh sâu sắc: Đất không chỉ là không gian cư trú mà còn là không gian của nghĩa tình, không gian của tinh thần; Nếu sống hết mình, gắn bó hết mình thì vùng đất dù có xa lạ đến mấy cũng trở nên thân thiết như chính quê hương mình vậy.

+ Ở hai khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác. Tình cảm gắn với thiên nhiên đất nước được biểu đạt bằng tình yêu giữa anh và em. => Từ những so sánh trong khổ thơ này nhà thơ đi đến một chân lí khái quát: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Chính tình yêu đã làm nên sự chuyển hóa kỳ diệu cho đất lạ thành quê hương, nghĩa là tình cảm của con người sẽ quyết định về không gian gắn bó sinh tồn đối với mỗi con người. Không có nơi đâu là đất lạ cả nếu có trong tâm hồn tình cảm yêu thương. Và đến đây ta hiểu chữ tình yêu của Chế Lan Viên không chỉ là tình yêu đôi lứa mà nó còn là tình yêu với quê hương đất nước.

Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường đầy lôi cuốn, sôi nổi, say mê và vẫn tiếp tục phát triển mạch suy tưởng của bài thơ. Nhà thơ khẳng định: Tiếng gọi của đất nước, của nhân dân, của đời sống đã trở thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã của chính lòng mình nên càng không thể chần chừ.

3. Kết bài

Khái quát lại nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

+ Nghệ thuật: tả thực, ước lệ, ẩn dụ, so sánh, tưởng tượng phong phú, câu hỏi tu từ, chất suy tưởng triết lí…

+ Cảm hứng bao trùm trong bài thơ là lòng biết ơn và niềm hạnh phúc trong sự gắn bó với cuộc sống, với nhân dân và đất nước của một tâm hồn đã “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”.

+ Bài thơ trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thơ viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1960 và của thơ Chế Lan Viên sau cách mạng tháng Tám.

phan tich bai tho tieng hat con tau - Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên (bài làm của học sinh giỏi)

Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu

Bài làm tham khảo

Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Chế Lan Viên được biết tới như là nhà thơ trữ tình triết luận. Thơ của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc ở sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được xem là bài thơ xuất sắc nhất của Chế Lan Viên trên hành trình thơ ca cách mạng. Bài thơ là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của nhà thơ.

Bài thơ “Tiếng hát con tàu” được in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960). Bài thơ được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – xã hội. Đó là cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc xây dựng kinh tế miền núi những năm 1958 – 1960. Hưởng ứng phong trào này, nhiều văn nghệ sĩ đã lên Tây Bắc. Lúc bấy giờ Chế Lan Viên đang phải nằm viện, ông đành gửi những khát vọng lên với Tây Bắc qua bài thơ này. Bài thơ tựa như một bản giao hưởng tâm trạng với ba chương khúc: Sự trăn trở giục giã lên đường – Sự hồi tưởng về những kỉ niệm với nhân dân trong kháng chiến – Khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng, say mê.

Xem thêm:  Trên tờ Tin nhanh Việt Nam (Vnexpress.net) có đăng bản tin sau: "Hôm qua, ...rừng bị thiêu rụi". Đọc bản tin trên, anh (chị) có suy nghĩ gì

Bài thơ có một nhan đề khá lạ: “Tiếng hát con tàu”. Trong nhan đề tác giả dùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa -Con tàu cất lên tiếng hát. Đó là tiếng hát của tâm hồn, tấm lòng nhà thơ, tiếng ca reo vui của một tâm hồn thơ tràn đầy khát vọng, niềm khao khát được đi xa, ra đi đến với cuộc sống xây dựng vùng cao Tây Bắc, góp sức xây dựng cuộc đời.

Bài thơ được bố cục theo trình tự diễn biến tâm trạng. Giọng điệu, âm hưởng của bài thơ cũng biến đổi theo mạch tâm trạng. Hai khổ đầu là sự trăn trở và lời mời gọi lên đường. Chín khổ thơ giữa thể hiện khát vọng về với nhân dân, gợi lên những kỉ niệm kháng chiến đầy nghĩa tình với nhân dân và đất nước. Bốn khổ cuối là khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng và say mê.

Bốn câu thơ đề từ chính là tư tưởng chủ đề bài thơ, đã khái quát suy nghĩ và tình cảm của tác giả:

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.”

Bốn câu thơ đề từ nêu lên cảm hứng, chủ đề bao trùm toàn bài cũng như khát vọng về với nhân dân, với mọi miền đất nước của tác giả. Hình ảnh đất nước và con người cứ đan xen nhau gợi mối quan hệ gắn bó thân thiết. Hình ảnh đất nước được nói tới ở đây là Tây Bắc song Tây Bắc không chỉ là một miền đất cụ thể mà nó còn là biểu tượng cho mọi miền đất của Tổ quốc. Tiếp đó, Chế Lan Viên đã từ hình ảnh Tây Bắc phát triển thành hình ảnh rộng lớn của Tổ quốc. Trong tương quan với hình ảnh Tổ quốc thì hình ảnh con người đã được diễn tả bằng hai cuộc hóa thân kỳ diệu. Đó là “lòng ta đã hóa những con tàu”, Chế Lan Viên đã hình tượng hóa sing độngkhát vọng ham hở vươn tới cuộc sống nhân dân, đất nước. Đó là “tâm hồn ta là Tây Bắc”, Nhà thơ khẳng định một chân lí: sức sống, tình cảm, thế giới tinh thần chỉ có thể được nuôi dưỡng trong cái nôi Tổ quốc.

Những câu thơ đề từ còn có ý nghĩa khái quát lên những đặc trưng và yêu cầu của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Câu thơ mở đầu là lời mời gọi con người trở về với nhân dân, đất nước. Xét ở bình diện sáng tạo nghệ thuật đây chính là một yêu cầu hướng ngoại trong thi ca. Chế Lan Viên khẳng định: Hướng tới Tây Bắc Tổ quốc chính là tìm về với chân trời nghệ thuật. Đây là một quy luật tất yếu đúng như nhà nghiên cứu phê bình văn học Nga Séc-nư-sep-xki nhận định “Cái đẹp chính là cuộc sống”. Nếu câu thơ thư nhất nhấn mạnh đến khách thể thì câu thơ thứ hai chính là sự nhấn mạnh về vai trò của chủ thể. Hai câu sau là mối quan hệ giữa cái tôi và cái ta, giữa cá nhân và cộng đồng. Chế Lan Viên ngầm thể hiện ý tưởng: khi người nghệ sĩ hóa thân vào nhân dân, đất nước thì có thể soi vào lòng mình mà thấy cả Tổ quốcthân yêu.

Hai khổ thơ đầu là lời giục giã với những câu hỏi ngày càng hối thúc. Nhà thơ chọn hình ảnh con tàu và địa danh Tây Bắc làm biểu tượng nghệ thuật của cả bài thơ:

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?

Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng.

 

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”

Sự thực thì vào thời điểm bài thơ ra đời và cho đến tận bây giờ vẫn chưa hề có đường tàu lên Tây Bắc. Con tàu trong bài thơ này là hình ảnh ẩn dụ. Biểu tượng cho khát vọng đi xa, thoát khỏi cuộc sống cá nhân chật hẹp để đến với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, của đất nước. Con tàu là biểu tượng cho khát vọng ra đi, khát vọng lên đường, khát vọng vươn tới những miền đất xa xôi của Tổ quốc. Thêm nữa đây là con tàu tâm tưởng của nhà thơ khát khao đến với nhân dân, đất nước và cũng là đến với những ước mơ, những ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật.

Địa danh Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể của một vùng đất còn gợi nghĩ đến mọi miền đất xa xôi của Tổ quốc, nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân, nơi đã ghi khắc những kỷ niệm của đời người trải qua cuộc kháng chiến, nơi đang vẫy gọi đi tới. Lời giục giã mời gọi ra đi lên Tây Bắc cũng chính là lời kêu gọi hãy trở về với chính lòng mình, tìm đến tâm hồn mình với những tình cảm sáng trong, nghĩa tình sâu nặng gắn bó với nhân dân, đất nước. Tây Bắc vì thế cũng chính là ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật, cội nguồn của hồn thơ và của cảm hứng sáng tạo thơ ca.

Đoạn thơ chính là lời giục giã, lời mời gọi lên đường tới mọi miền xa xôi của Tổ quốc để xây dựng cuộc sống mới đồng thời thể hiện sự trăn trở, suy nghĩ trong con người tác giả. Với hình thức phân đôi của chủ thể trữ tình (“Anh” vừa là tác giả, vừa là người khác), đoạn thơ như là đoạn tự độc thoại nội tâm, như là tác giả đang trò chuyện với người khác (Anh đi chăng; Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội; Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?; Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép…). Câu thơ “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” thể hiện suy nghĩ, trăn trở sâu xa. Có lẽ, nhà thơ khẳng định, phải mở rộng tầm nhìn, mở rộng tâm hồn, chan hòa với cuộc sống của nhân dân, đất nước mới có thơ hay.

Nếu hai khổ thơ đầu là sự trăn trở và lời giục giã mời gọi lên đường thì chín khổ tiếp theo lại là niềm hạnh phúc và khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỷ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến; xen với những hình ảnh lung linh của hồi tưởng là những chiêm nghiệm, đúc kết trong giọng thơ trầm lắng.

Bắt đầu là cảm xúc và tấm lòng của nhà thơ khi hồi tưởng về những năm kháng chiến:

“Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân.

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại mẹ yêu thương.”

Xem thêm:  Lòng nhân hậu của nhân vật An - đrây Xô - cô - lốp được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Số phận con người của Sô - lô - khốp

Lòng thành kính, biết ơn hiện lên ở “xứ thiêng liêng”, “rừng núi anh hùng”, “nơi máu rỏ” thật trang trọng, thể hiện sự vĩ đại của Tây Bắc. Điều đó như ám ảnh nhà thơ về một món nợ tinh thần phải trả. Những từ chỉ thời gian “ mười năm”, “nghìn năm” gợi lên quá khứ đầy gian nan và có sức âm vang lâu bền cùng tấm lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ. Có thể nói cuộc kháng chiến chống Pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với lớp trí thức văn nghệ sĩ tiền chiến. Những năm kháng chiến ấy đã giúp họ nhận đường, lột xác hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân, cách mạng. Bởi vậy, Chế Lan Viên đã nói về kháng chiến với lòng biết ơn vô hạn:

“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.”

Nhà thơ cũng hiểu được cuộc sống dạt dào chín trái đầu xuân mà mình đang hưởng là phải bao máu rỏ mới có được. Cho nên nhà thơ đã tự nhủ:

“Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.”

Tác giả tự nhận mình là “con” và nhân dân chính là “Mẹ yêu thương”. Đứa con ấy đang tự hứa với mình là phải vươn lên để xứng đáng với lòng mẹ – người mẹ nhân dân. Đó là biểu hiện cao độ của lòng biết ơn.

Tiếp theo là khát vọng và niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân và kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”

Tác giả đã diễn tả niềm hạnh phúc được về với nhân dân bằng một loạt hình ảnh so sánh. Nhân dân được ví như suối nguồn mát trong cho con nai khát, như hơi ấm mùa xuân cho cỏ rụi bật mầm, như ánh thiều quang cho chim én vui liệng. Về với nhân dân là về với môi trường sống quen thuộc, thân thiết làm nảy nở sự sống. Nếu ba sự so sánh trên mượn hình ảnh thiên nhiên thì hai so sánh sau trực tiếp lấy hình ảnh từ cuộc sống con người: Nhân dân là bầu sữa mẹ ngọt lành cho đứa trẻ đói lòng, là cánh tay đưa cho nôi trẻ những ngày nóng bức. Như vậy đến đây, nhân dân sẽ được nâng lên một tầm vóc lớn hơn: nhân dân là người nuôi dưỡng làm hồi sinh, che chở, cưu mang sự sống.

Mỗi cặp hình ảnh được dùng để so sánh ở đây đều có hai vế với quan hệ khăng khít: những hình ảnh ở vế thứ hai là điều kiện sống, ngọn nguồn nuôi dưỡng cho vế thứ nhất. Nó ẩn chứa mối quan hệ mật thiết giữa cá nhân với cộng đồng, đồng thời nó cũng ngầm biểu đạt một quy luật sáng tạo nghệ thuật. Hiện thực cuộc sống của nhân dân, đất nước chính là ngọn nguồn nuôi dưỡng của nghệ thuật. Những hình ảnh so sánh như trên đã kết đọng được ý tưởng chủ đạo của cả bài thơ, đó là lòng biết ơn, tình cảm và sự gắn bó sâu nặng với nhân dân đất nước của một hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật của mình.

Nếu nhân dân được hiện lên là những gì lớn lao để nuôi dưỡng, che chở thì nhà thơ lại thấy mình thật nhỏ bé, yếu mềm. Nhà thơ tự xưng là con, ví mình như là con nai, là cỏ, là chim én, là đứa trẻ. Điều đó làm nổi bật ý nghĩa lớn lao của nhân dân đối với bản thân và với thế hệ mình. Hình ảnh con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ thật giàu sức gợi, nó gợi ta nhớ về “con nai vàng ngơ ngác” trong thơ Lưu Trọng Lư ; “con nai bị chiều đánh lưới” trong thơ Xuân Diệu. Tuy nhiên con nai trong thơ Chế Lan Viên giờ đây đã thoát khỏi thung lũng cô đơn để ra với cánh đồng vui, về với suối cũ – nhân dân. Cách ví hàm chứa một niềm hạnh phúc, một niềm vui của một con người – một nghệ sĩ.

Khát vọng lên Tây Bắc gợi nhớ cả một trời kỉ niệm về những năm tháng kháng chiến gian nan, nguy hiểm mà ấm áp tình người. Đồng thời là sự gắn bó và lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân kháng chiến:

“Con nhớ anh con người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.

Con nhớ em con thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài.

Con nhớ mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.”

Điệp từ “con nhớ” như một nốt nhạc chủ đạo và tạo thành điệp khúc thiết tha, mỗi từ chất chứa biết bao bồi hồi nhung nhớ tri ân. Cách xưng “con” thể hiện tình cảm gắn bó như ruột thịt của nhà thơ với những người con đại diện cho nhân dân. Theo nỗi nhớ tha thiết ấy, nhân dân hiện lên là những con người vừa dũng cảm kiên cường, vừa tình nghĩa thủy chung với cách mạng, với kháng chiến. Họ là người anh du kích trước lúc hi sinh còn trút áo truyền hơi ấm lại cho người ở lại, họ là em liên lạc bền bỉ, gắn bó với cách mạng,“mười năm tròn chưa mất một phong thư”. Đặc biệt tấm lòng ân nghĩa của nhân dân đã hội tụ ở hình ảnh người mế hết lòng che chở cho nghững người con kháng chiến. Qua những hình ảnh trên, Chế Lan Viên đã khắc họa nên hình tượng về tập thể nhân dân cao đẹp, họ hiện lên với những sự hy sinh thầm lặng lớn lao, với tình thương và sự chở che đùm bọc rộng lớn. Đặc biệt hình tượng ấy được khắc họa trong những hình ảnh thời gian dài lâu: suốt một đời, mười năm tròn, một mùa dài, trọn đời đã khắc sâu hơn tình nghĩa thắm thiết cũng như lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân.

Đang từ dòng hồi tưởng về những kỉ niệm khó quên, nhà thơ đã nâng cao và khái quát cảm xúc lên thành một triết lí nhân sinh sâu sắc. khổ thơ dưới đây như một phát hiện về quy luật của tình cảm đời sống tâm hồn con người:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”

Từ sự hồi tưởng lại những kỉ niệm với nhân dân trong kháng chiến, nhà thơ đã nâng lên thành khổ thơ đầy tình khái quát triết lí.

Trước hết, nhà thơ bộc lộ những tình cảm suy ngẫm của bản thân đối với quê hương đất nước. “Nhớ” được lặp lại hai lần trong một câu thơ, nhấn mạnh mức độ thiết tha của tình cảm. Gắn với nỗi nhớ thiết tha ấy là những hình ảnh: sương giăng, mây phủ, đèo cao…. đó là những tín hiệu thẩm mĩ gợi lên cái không gian huyền ảo, heo hút của núi rừng. Đến với thơ ca kháng chiến, người đọc luôn được đắm mình vào những không gian bản làng ngập tràn sương khói đèo cao mây phủ:

Xem thêm:  Giải thích ý nghĩa nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong bài thơ "Tiếng hát con tàu” (Chế lan Viên)

“Nhớ từng bản khói cùng sương”

(Tố Hữu)

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

(Quang Dũng)

Tuy nhiên với Chế Lan Viên thì những nơi ấy không hề hoang vắng, xa lạ mà ngược lại chúng thật thân thiết gắn bó. Câu hỏi tu từ “Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?” khẳng định rõ hơn tình cảm sâu nặng của nhà thơ với nhân dân, đất nước.

Hai câu thơ tiếp mang đậm tính triết lí về con người và không gian sinh tồn của con người: “Khi ta ở – Khi ta đi; Đất ở – Đất hóa tâm hồn”. Sự nhịp nhàng tác động sâu lắng đến người đọc cho ta thấy một quy luật tình cảm: Đất không chỉ là không gian cư trú mà còn là không gian của nghĩa tình, không gian của tinh thần. Mối quan hệ giữa con người và không gian tồn tại: Nếu sống hết mình, gắn bó hết mình thì vùng đất dù có xa lạ đến mấy cũng trở nên thân thiết như chính quê hương mình vậy.

Ở hai khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác. Tình cảm gắn với thiên nhiên đất nước được biểu đạt bằng tình yêu giữa anh và em:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương."

Câu thơ có vẻ như nghiêng về tình cảm riêng tư nhưng thực ra nó vẫn nằm trong cái mạch chung của toàn bài: Từ những tình cảm, những hình ảnh cụ thể nâng lên thành tình cảm chung, những suy ngẫm triết lí. Những câu thơ có một sức lay động kì lạ. Nhà thơ đã dùng những hình ảnh so sánh bất ngờ, mới lạ không giống như thơ ca truyền thống, ca dao. Nhớ những hình ảnh vốn xa nhau đặt cạnh nhau bất ngờ mà vẫn hợp lí: “Nhớ em – Đông về nhớ rét; Tình yêu – Cánh kiến hoa vàng”. Các cặp hình ảnh mang đậm triết lí. Các sự vật hiện tượng muốn tồn tại phải có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Qua đó nhà thơ muốn gửi gắm ý tưởng: Người nghệ sĩ chỉ có thể sáng tạo khi gắn bó thân thiết với hiện thực cuộc sống quê hương. Đoạn thơ có những hình ảnh lung linh của sự hồi tưởng là những chiêm nghiệm đúc kết trong giọng trầm lắng. Lối kết hợp cảm xúc – suy tưởng, nâng cảm xúc tình cảm lên trong suy ngẫm triết lí… Đó là thành công trong đoạn thơ và là ưu điểm trong thơ Chế Lan Viên.

Từ những so sánh trên nhà thơ đi đến một chân lí khái quát: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Chính tình yêu đã làm nên sự chuyển hóa kỳ diệu cho đất lạ thành quê hương, nghĩa là tình cảm của con người sẽ quyết định về không gian gắn bó sinh tồn đối với mỗi con người. Không có nơi đâu là đất lạ cả nếu có trong tâm hồn tình cảm yêu thương. Và đến đây ta hiểu chữ tình yêu của Chế Lan Viên không chỉ là tình yêu đôi lứa mà nó còn là tình yêu với quê hương đất nước.

Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường đầy lôi cuốn, sôi nổi, say mê và vẫn tiếp tục phát triển mạch suy tưởng của bài thơ:

“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi

Tình em đang mong tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga.

 

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao.

 

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ,

Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa,

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.

 

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng.

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.”

Nhà thơ khẳng định: Tiếng gọi của đất nước, của nhân dân, của đời sống đã trở thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã của chính lòng mình nên càng không thể chần chừ:

“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi

Tình em đang mong tình mẹ đang chờ”

Thậm chí trở thành nỗi khát khao bồn chồn không thể thiếu được: “Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga; Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng”. Nỗi khát khao ấy thôi thúc tâm hồn thơ của tác giả vì khát khao về với Tây Bắc, về với nhân dân là khát khao về với ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo. Những năm tháng gian khổ, những hy sinh lớn lao, những đau thương trong chiến tranh đã kết tinh thành “Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào” trên “Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao” thành “vàng” của tâm hồn đang mời gọi những hồn thơ, đang vẫy gọi cả những “cơn mơ”, những “mộng tưởng”:

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao.

 

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ,

Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa,

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.

 

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng.

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.”

Đoạn thơ có âm hưởng sôi nổi lôi cuốn. Hình ảnh thơ phong phú, biến hóa, giàu tính ẩn dụ. Những câu thơ có âm hưởng trùng điệp gây ấn tượng.

Bằng các biện pháp nghệ thuật tả thực, ước lệ, nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, tưởng tượng phong phú, câu hỏi tu từ, chất suy tưởng triết lí…, trong bài “Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên đã sáng tạo thành công nhiều hình ảnh đặc sắc gợi sức liên tưởng phong phú cho người đọc. Cảm hứng bao trùm trong bài thơ là lòng biết ơn và niềm hạnh phúc trong sự gắn bó với cuộc sống, với nhân dân và đất nước của một tâm hồn đã “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Con tàu tâm tưởng chở đầy ước mơ, khát vọng đang băng băng tới những vùng đất xa xôi của Tổ quốc, đồng thời cũng là mảnh đất mỡ màu nuôi dưỡng hồn thơ, hứa hẹn những mùa vàng bội thu trong một tương lai không xa. “Tiếng hát con tàu” trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thơ viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1960 và của thơ Chế Lan Viên sau cách mạng tháng Tám.

Thơ Chế Lan Viên nói chung và bài thơ “Tiếng hát con tàu” nói riêng sẽ còn in đậm trong tâm trí nhiều độc giả hôm nay và ngày mai.

Chu Nhật Tiên

Lớp 12A1 – Trường THPT Vân Nham, Hữu Lũng, Lạng Sơn