Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Tú Xương (bài làm của học sinh giỏi)

Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ Vịnh khoa thi Hương (Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu) là một trong 13 bài thơ viết về đề tài thi cử của Tú Xương.

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu Trần Tế Xương với phong cách thơ hiện thực và thơ trữ tình.

Giới thiệu hoàn cảnh, bối cảnh của bài thơ Vịnh khoa thi Hương.

Khái quát đôi nét nội dung.

2. Thân bài

a. Cuộc thi bất thừơng năm Đinh Dậu 1897

Sự hai mặt của khoa thi

Bề ngoài bình thường : 3 năm diễn ra một lần.

Bên trong bất thường: sự hợp thí của trường Hà với trường Nam thể hiện sự lộn xộn, nhốn nháo của cuộc thi.

b. Bộ mặt của sĩ tử và bọn quan lại phong kiến, tay sai

Sĩ tử lôi thôi, vai đeo lọ.

Quan trường ậm ọe, ra oai, nạt nộ nhưng lại hết sức giả dối.

c. Bộ mặt của chính quyền thực dân

Hình ảnh đối thơ quan sứ và mụ đầm .

Nghệ thuật đối và đảo ngữ giúp vạch trần bộ mặt thật trước sự “ bảo hộ”của chính quyền thực dân Pháp.

d. Nỗi lòng của nhà thơ, lòng yêu nước thầm kín

Lời đánh thức lương tri, lương tâm của những nhân tài trước cảnh nước mất, nhà tan.

Bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của tác giả.

3. Kết bài

Khái quát lại nội dung và nghệ thuật:

  • Tố cáo xã hội phong kiến, chính quyền thực dân.
  • Sự khắc khoải, lời thức tỉnh nhân tài trước cảnh đất nước.
  • Nỗi lòng yêu nước.

Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Bài làm tham khảo

Nhắc đến Trần Tế Xương ( Tú Xương) không thể không nhắc đến phong cách thơ độc đáo của ông: vừa châm biếm, đả kích sâu sắc, vừa trữ tình. Một trong những bài thơ châm biếm sâu sắc nhất của ông là bài thơ “ Vịnh khoa thi Hương” là một trong 13 bài thơ viết về đề tài thi cử của Tú Xương. Bài thơ lấy bối cảnh là năm 1897 khi khoa thi Hương được tổ chức ở Nam Định khi Toàn quyền Đông Dương và Công sứ Nam Định đến dự. Vì lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng, Tú Xương hết sức phẫn uất, đau xót. Bài thơ là lời tố cáo xã hội suy đồi của Nho học bấy giờ và cảnh chế độ thực dân nửa phong kiến bước đầu xác lập ở nước ta.

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

Mở đầu bài thơ tác giả giới thiệu khái quát về đặc điểm của khoa thi Hương năm Đinh Dậu 1897, một nội dung mang tính thời sự trong bất cứ thời đại nào: thi cử. Trong một sự vật luôn tồn tại hai mặt và khoa thi Hương năm ấy cũng không phải ngoại lệ. Bề ngoài đây chính là một cuộc thi bình thường, diễn ra theo đúng thời gian, theo thông lệ 3 năm mở một khoa thi. Đều làm cho hai câu đề không bình thường chính là bên trong cuộc thi ấy, “ Trường Nam thi lẫn với trường Hà” đây chính là điểm bất thường của khoa thi năm ấy. Nhà Nguyễn, Bắc Kì có hai trường thi Hương là trường Hà Nội ( trường Hà) và trường Nam Định ( trường Nam) , nhưng từ khoa thi năm Bính Tuất 1886 vì thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội nên trường thi Hà Nội bỏ và được hợp thí với trường Nam Định. Thông qua từ “ lẫn” thấy được sự lẫn lộn, mỉa mai, khẳng định sự thay đổi trong chế độ xã hội cũ, dự báo sự ô hợp, nhốn nháo, không nghiêm túc trong việc thi cử.

Xem thêm:  Phân tích bài Thơ Duyên của Xuân Diệu

Sự nhốn nháo, tạp nham của khoa thi năm ấy được thể hiện rõ nét ở những câu sau, khi chuyển sang hai câu thực:

“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa”

Hình ảnh con người hiện lên trong hai câu thực với hai hình ảnh trái ngược nhau. Sĩ tử thì “ lôi thôi”, “ vai đeo lọ”, người sĩ tử tiêu biểu cho trí thức phong kiến xưa lại lôi thôi, luộm thuộm. “ Vai đeo lọ” hình ảnh người sĩ tử chỉnh tề không xuất hiện, thay vào đó là hình ảnh lôi thôi, lếch thếch thật đáng chê trách, mỉa mai của các sĩ tử trong khoa thi Hương năm đó. Nếu như sĩ tử thì lôi thôi, quan trường lại ậm ọe. Vì không gian diễn ra thi rộng nên quan coi thi phải dùng loa để thông báo cho thí sinh, lời thông báo ấy dĩ nhiên phải dõng dạc, rõ ràng không thể nào ậm ọe được.   Ậm oẹ là âm thanh ú ớ, nói không thành tiếng rõ, nhưng cái giọng điệu lúc nào cũng vênh váo, tỏ vẻ quyền lực nhưng thực chẳng có quyền lực gì. Tác giả đã sử dụng rất đắt từ “ ậm ọe” để nói về các quan coi thi trong khoa thi bấy giờ. Chính từ “ậm ọe” đã cho thấy bộ mặt lố lăng của quan trường và lũ tay sai của chính quyền thực dân, phong kiến. Bằng nghệ thuật đảo ngữ, tác giả đã tái hiện lên khung cảnh về những con người vừa chân thực, vừa sâu sắc nhưng cũng đầy châm biếm, độc đáo.

Xem thêm:  Từ câu chuyên về sự thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao) bàn về sức mạnh của tình thương yêu con người

Loading...

Sự châm biếm, đả kích còn được bộc lộ rõ hơn trong hai câu tiếp theo:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra.”

Tú Xương lại tiếp tục lột trần sự giả dối của khoa thi năm Đinh Dậu. Theo như sách sử cho biết, kì thi năm ấy có vợ chồng tên toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tôn công sứ Nam Định Le Normand đến dự. Đây chính là sự thực đã diễn ra mà không ngòi bút sắc sảo nào có thể che đậy được. Cho nên với bản chất cùng lòng tự trọng , Tú Xương đã vạch trần mà không giấu giếm sự thật, viết lên hai câu luận sóng đôi với nhau tạo nên không gian trường thi, bản chất cuộc thi thêm phần ô hợp, nhốn nháo. “ Lọng cắm rợp trời” là không gian trường thi nơi được tổ chức một cuộc thi Hương hết sức linh đình nhưng lại không nghiêm túc. Hình ảnh quan sứ và mụ đầm là sự phô trương, hình thức và không đúng với lễ nghi của một kì thi. Đặc biệt, sự xuất hiện của quan sứ, mụ đầm còn thông báo một sự sa sút về chất lượng thi cử cũng như bản chất của xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ.

Bằng nghệ thuật đối tinh tế, giàu sức thuyết phục cùng với lối đảo ngữ quen thuộc, Tú Xương đã để cái "váy" của mụ đầm ngang với cái "lọng" của quan sứ mà thực chất là chính quyền thực dân Pháp. Để hai hình ảnh đó với nhau, đối nhau, Tú Xương đã chĩa ngòi bút về sự thực nhưng tố cáo, châm biếm sâu sắc. Tác giả cũng dùng nghệ thuật đối trong những thành phần khác của hai câu luận, "quan sứ" đối với "mụ đầm" là một dụng ý của Tú Xương. Gọi “ quan sứ”’ thì trang trọng, lịch sự nhưng gọi vợ của quan sứ là “ mụ đầm” thì chính là sự chơi chữ đả kích mạnh mẽ vào sự việc. Thời xưa, người ta quan niệm phụ nữ thì nên ở nhà lo quán xuyến việc nhà cửa, con cái rồi bếp núc chứ tuyệt nhiên không được đi học, đến trường và thi cử chứ huống chi lại đến trường thi rồi ngồi trên cao mà trông mà coi kỳ thi quan trọng này. Tác giả lại đối “ trời” với “đất”, cái trên cao vợi với cái dưới thấp, phải chăng nhắm tới sự sa đọa, mục ruỗng của cuộc thi cũng như xã hội thời đó. Hai câu luận khép lại chính là tiếng nói đả kích, tố cáo tội ác của chính quyền thực dân, cũng như sự bất lực của chính quyền phong kiến, thấy nước mất mà không lo, thấy nước không còn mà chẳng đau xót.

Xem thêm:  Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ: “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh

Cho dù là trong thơ Tú Xương luôn thể hiện hiện thực xã hội chân thực và gửi gắm tình cảm của mình, nhưng phải đến hai câu kết của Vịnh khoa thi Hương người ta mới cảm nhận rõ nhất:

“Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”

Đất Bắc mà tác giả đề cập tới phải chăng là thủ đô Hà Nội của nước ta. Tú Xương hướng tới những con người, nhân tài nơi đất Bắc, những con người còn chôn vùi tài năng hay đang phục vụ cho chính quyền thực dân nửa phong kiến thối nát ấy nhìn về cảnh nước nhà. Nước mất thì nhà cũng tan. Hai câu kết bộc lộ tâm trạng của nhà thơ, ấy là sự buồn chán trước con đường thi cử và hiện thực một cổ hai tròng của nhân dân, của đất nước. Đồng thời, nhà thơ cũng lay gọi những sĩ tử, nhân tài đất Bắc cần thấy sự nhục nhã của nước nhà mà thức tỉnh lương tâm.

Nhận định về thơ Tú Xương có ý kiến cho rằng: “Trong đó con người nhà thơ của Tú Xương cũng hiện lên rất rõ, từ dáng vẻ đến tâm hồn, từ cá tính đến tâm sự, cả nỗi đau đến vẻ đẹp, vừa rất riêng, vừa tiêu biểu cho cả một lớp người, một loại tâm trạng…”. Có thể nói nhận định trên hoàn toàn đúng với Vịnh khoa thi Hương hay bất kỳ bài thơ nào của Tú Xương. Chỉ bằng hình ảnh không gian trường thi Hà Nam nhỏ thôi cũng đủ để Trần Tế Xương tái hiện lại cả một đoạn lịch sử, đoạn tâm trạng của mình. Vịnh khoa thi Hương đã làm xuất sắc nhiệm vụ lên tiếng tố cáo đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến, tố cáo việc tuyển chọn khoa cử không nghiêm túc. Cũng là lời châm biếm, đả kích mạnh mẽ nhưng đầy nghệ thuật. Tác phẩm cũng đã bộc lộ được sự khắc khoải, lòng yêu nước thầm kín mà tác giả gửi gắm.

Nguyễn Khánh Linh

Lớp 11A1 – Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Lục Yên, Yên Bái

Đánh giá bài viết
Loading...

Từ khóa tìm kiếm:

  • PHÂN TÍCH VẺ ĐẸP PHẨM CHẤT CỦA NGUOIF PHỤ NỮ QUA THƯƠNG VỢ TÚ XƯƠNG